|
Một vài cảm nhận khi đọc
bài thơ "Lẩn thẩn một ḍng sông" của tác giả Minh Đức Triều Tâm
Ảnh - Chơn Hữu
Nỗi rung cảm
dâng lên thật bất ngờ khi t́nh cờ đọc lại bài thơ “Lẩn thẩn một
ḍng sông”. Tôi như nhận được một món quà trân quư v́ mấy khi
thưởng thức được một bài thơ hay.
Thật t́nh mà
nói, tôi đă đọc bài thơ này nhiều lần trước đây, nhưng lần này
tôi chợt nghe hồn ḿnh dâng lên niềm cảm xúc kỳ lạ, sự ngạc
nhiên thích thú như lần đầu tiên đi vào thế giới thi ca; thế
giới của huyền thoại và hiện thực, của nhạc và thơ, của hoa và
cỏ, của trăng sương bảng lảng, của những ǵ mơ mộng và sâu lắng:
Sống với núi mà t́nh chưa hoá
núi
Nên đôi khi lẩn thẩn một ḍng
sông Lẩn thẩn cánh chim màu hoàng
hôn ướt sẫm Cùng cánh bèo xao xuyến nỗi
sầu đông Tiếng ai hát mà bờ xa sóng vỗ Đẫy con đ̣ trôi hút cơi cô
liêu Rừng không ngủ và ngàn sao
không ngủ Tưởng lắng nghe chuông vọng
bến Phong Kiều Sống như đá mà t́nh chưa hoá
đá Lẩn thẩn trăng và lẩn thẩn
cánh buồm khơi Đốm lửa chài nhấp nhô miền hư
ảo Tưởng cùng ta nhấp nháy trái
tim người Nên nỗi buồn cũng chàm rêu
thành quách Ḍng sông đêm con nước chảy mơ
hồ Dăm tri kỷ tơ đàn xưa buốt
lạnh Thoảng mộng trường dăm bảy hạt
sương khô. (MĐTTA)
Đọc lướt qua bài thơ đă nhận ra
ngay sự tài hoa của tác giả. Nhà thơ đă phác hoạ rất thành công
những h́nh tượng nghệ thuật thật sinh động. Bài thơ được kiến
trúc bằng ngôn ngữ và trái tim mẫn cảm của người nghệ sĩ; nhưng
để hồn lắng lại, người đọc sẽ nhận ra phía dưới lớp ngôn từ lăng
mạn, giàu chất trữ t́nh ấy c̣n ẩn chứa một vẻ đẹp trầm lắng. Một
vẻ đẹp hàm ẩn của thế giới tâm linh, của đạo thiền vốn uyên áo
không c̣n giới hạn bởi ngôn ngữ.
Mở đầu bài thơ: “Sống với núi
mà t́nh chưa hoá núi”. Lời thơ đẹp và thi vị quá!
Không gian nghệ thuật là một ngọn
núi, hay cả dăy núi mà ở đâu cũng có thể có. Núi là nơi cách xa
chốn phồn hoa đô hội, là nơi nương nhờ của muôn loài hoang dă,
là tổ ấm của những cánh chim tự do và cũng là nơi náu ḿnh của
những hiền sĩ Đông phương. Vậy là quá rơ, chủ thể của bài thơ
chắc chắn là một ẩn sĩ “sống với núi”. Nhưng “mà t́nh
chưa hoá núi”. Cảnh và t́nh được giới thiệu, bày tỏ trong
một không gian nghệ thuật rất riêng mà rất quen.
Núi vốn vô tư, an ổn, mặc gió
mưa, nóng lạnh, mặc bốn mùa thay đổi. Và trong không gian ấy nhà
ẩn sĩ đă bộc bạch nỗi long (t́nh) của ḿnh không phải lạnh lùng
như núi.
Không lạnh lùng, vô cảm v́ t́nh
là cái muôn thuở dạt dào… mà cái t́nh của ẩn sĩ là cái t́nh bao
la. Nó không thể bị giới hạn bởi một nơi nào, nó luôn vô lượng
với trần gian khổ đau và kho cằn này. Và rồi, ví t́nh không bị
giới hạn (chưa hoá núi) ấy mà ẩn sĩ thấy ḿnh “Đôi khi lẩn
thẩn một ḍng sông”
Cái đẹp, cái hay của bài thơ được
dệt nên qua hai câu đầu tạo thành một khung cảnh trữ t́nh, thơ
mộng do tác giả dung từ kép “lẩn thẩn” thật đáng yêu;
với chút lẩn thẩn ấy mà bài thơ được đưa lên đỉnh cao nhờ yếu tố
ngôn ngữ nghệ thuật. Dường như tác giả không dụng công làm thơ
mà nh́n vào cái tâm của ḿnh. Chỉ nh́n và ghi nhận để thấy ḿnh
c̣n vương vương bao nỗi u hoài trên ḍng ṣng tâm tư hay ḍng
đời mông lung khói sương viễn mộng. Phải có một sự trầm tỉnh,
một cái nh́n xuyên suốt tâm tư mới thấy được ḍng ư niệm kia là
điều “lẩn thẩn!”
"Lẩn thẩn cánh chim màu hoàng hôn
ướt sẫm”. Đến đây,
người đọc như bất ngờ (một nỗi bất ngờ lư thú) khi bắt gặp
một màu sắc thật lạ, thật độc đáo qua cảm quan qua sự sáng tạo
của tác giả.
"Màu hoàng hôn ướt sẫm”.
Trong phong cách sáng tạo
nghệ thuật rất riêng, tạo nên một hiệu quả thẩm mĩ trừa tượng để
người đọc thấy được tâm hồn tác giả rất phóng khoáng, nhạy cảm.
Tác giả đă rung cảm trước vẻ đẹp của nỗi buồn và đă thể hiện sự
cảm nhận đó thành ngôn ngữ mang sắc màu nghệ thuật. Nhờ sự thể
hiện tài t́nh đó mà làm cho cái t́nh và cái đẹp hoà quyện vào
nhau, gợi cho người đọc liên tưởng đến màu sắc hoàng hôn trong
thơ ca của Thôi Hiệu ở bài Hoàng Hạc Lâu:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn ḷng
ai)
(Tản Đà dịch)
Thời gian nghệ thuật ở đây là
hoàng hôn. Mỗi ngày có một hoàng hôn, không hoàng hôn nào giống
hoàng hôn nào, nhưng hiếm ai diễn đạt được “màu hoàng hôn ướt
sẫm” tài hoa và lạ lẫm như tác giả.
Nhưng, dường như, ngôn ngữ mang
sắc màu nghệ thuật “Màu hoàng hôn ướt sẫm” không chỉ dừng
lại ở vẻ đẹp, v́ c̣n điều ǵ đó vượt lên trên hay sâu lắng hơn
cái đẹp của hoàng hôn. Phải chăng là cái thấy thân phận người
“ướt sũng” do sự giới hạn trong ḍng thời gian? Và quanh ta
c̣n bao tâm tư trắc trở - khát khao một điều ǵ đó vô h́nh?!
“Cùng cánh bèo xao xuyến nỗi sầu
đông”. Rơ ràng, ḱa sự
đau khổ luôn luôn hiện hữu nơi cuộc đời! Nh́n lại để thấy, thấy
để biết, để cảm nhận sự thật; sự thật ấy là nỗi buồn – nỗi buồn
của ta và tha nhân. Tác giả dùng phép so sánh trong thơ thật nhẹ
nhàng nhưng rất “sốc”. Nỗi buồn của cánh chim có giống
chăng niềm xao xuyến của cánh bèo?
V́ đă thấy được nỗi đau của thân
phận, của cuộc đời và rồi không chấp nhận hạn cuộc, không dừng
lại ở đó. Người nghệ sĩ với tư duy trăn trở, nỗi niềm khao khát…
làm một cuộc phiêu bồng t́m kiếm; và rồi phải chăng(?) đă t́m
được, đă nghe được một bến đỗ b́nh an đâu đó: “Tiếng ai hát
mà bờ xa sóng vỗ”. Có thể h́nh dung được một bến bờ hạnh
phúc ấy ở rất xa – xa nhưng rất gần, v́ chính tai ḿnh đă nghe
được tiếng sóng vỗ của bờ xa ấy, tuy chưa đến được. Nhưng người
nghệ sĩ hoàn toàn tin tưởng rằng, bờ kia và lối đến là có thực
v́ đă nghe tiếng hát của người bên kia bờ! Người ấy là ai? Phải
chăng tiếng hát ấy là lời kinh huyền nhiệm?
Ngôn ngữ nghệ thuật của thi ca
luôn hấp dẫn, luôn khêu gợi. Nó luôn là điều ǵ đó chưa nói hết,
nó mời gọi người đọc khám phá và tự ḿnh cảm nhận.
Đến đây, dường như ta hiểu được
rằng: cuộc phiêu bồng t́m kiếm của người nghệ sĩ đă được định
hướng. Để rồi từ sự định hướng ấy, người nghệ sĩ ấy tiếp tục dấn
bước, một quyết định dấn bước vào hố thẳm: “Đẩy con đ̣ trôi
hút cơi cô liêu”.
Để diễn đạt sự cô đơn của người
nghệ sĩ trong bước dấn ḿnh trên đường t́m về bến bờ b́nh
nguyên, tác giả dùng từ ghép “trôi hút” một cách rất thần
t́nh làm cho người đọc cảm nhận được sự cô đơn tuyệt đối trong
“cơi cô liêu”!
Cơi cô liêu ấy cũng chính là cơi
đời, cơi trần hồng khói sương giả tạm. Trên bước đường ấy, hành
giả phải thực hiện cuộc hành tŕnh một cách đơn độc, không người
đồng hành. Mỗi người phải tự đến để mà thấy cái bến bờ ấy. Không
một ai có thể ban tặng cho ta và ngược lại.
Con đường đưa đến bến bờ tự do
mỗi người phải đi đến, nhưng để đến được chốn ấy, hành giả luôn
phải đặt trách nhiệm vào nơi ư chí của chính ḿnh. Trách nhiệm
và ư chí ấy là sự nỗ lực liên tục, ta hăy nghe “rừng không
ngủ và ngàn sao không ngủ”. Có thao thức đêm trường mới hiểu
được rừng không ngủ và ngàn sao không ngủ như thế nào
trong định luật của chúng. Tuy nhiên, tâm tư của con người, nhất
là nhà thơ là một ḍng sông bất tận; nhà thơ có quyền năng hơn
loài người phàm tục – đó là quyền rung động và buồn. Trong khi
dơi mắt canh chừng trên đường đi ở ḿnh, hành giả thấy và thú
nhận “tưởng lắng nghe chuông vọng bến Phong Kiều”!
Những người yêu thơ ai cũng từng
ngớ ngẩn mà thán phục gă khách thuyền Trương Kế, nửa đêm mở cơi
ḷng mà đón nhận tiếng chuông chùa Hàn San. Dường như có một sợi
dây mơ hồ kết nối giữa người khách thuyền hôm nay và người khách
thuyền năm xưa. Câu thơ hàm chứa một vẻ đẹp có từ ngàn xưa nhưng
không bao giờ cũ; một vẻ đẹp mang mang, trời sương, trăng mờ,
quạ kêu… tạo nên một nét duyên ngầm quyến rũ làm say đắm người
đọc. Người thơ của chúng ta như đồng cảm với cổ nhân, với nỗi
sầu miên man sông nước; để ở khổ thơ thứ ba trong bài, một lần
nữa, lại đưa chúng ta trở về với bến nước Phong Kiều xưa, qua
h́nh tượng “đốm lửa chài”; và rồi, lại nh́n nhận rằng
những hoài vọng xa xăm chỉ là hư ảo. Nhưng ta hăy thưởng thức
chậm răi, bởi câu đầu trong khổ thơ thứ ba tác giả đă phát hoạ
rất ấn tượng: “Sống như đá mà ḷng chưa hoá đá”. Ở câu
đầu là “sống với”; tới đây, tác giả lại xác nhận “sống
như”. Núi và đá là hai thuật ngữ mà nhà thiền thường sử dụng.
Khi ẩn dụ về thiền định, về sự
vững chắc không lay chuyển, sự chú tâm, người ta hay dùng thuật
ngữ “núi”; c̣n khi dùng thuật ngữ “đá” th́ lúc ấy
yếu tính khẳng định hơn (Thiền định được xem như lấy đá đè cỏ);
khi tảng đá đè lên th́ cỏ không thể nào mọc được, nhưng bỏ đá ra
th́ cỏ lại mọc như xưa. Tác giả đă thấy rơ điều ấy nên tâm (ḷng)
chưa hoá đá, chưa muốn hoá đá. Chưa hoá đá mà vẫn sống như đá…
phải chăng bậc hành giả đang dùng đôi mắt b́nh lặng để tiếp tục
nh́n rơ những gợn sóng lăn tăn bên trong ḿnh.
“Lẩn thẩn trăng và lẩn thẩn cánh
buồm khơi”.
Những h́nh tượng hết sức mơ mộng,
đẹp đẽ, vốn được dùng để ca ngợi cái đẹp trong thi ca: trăng,
cánh-buồm-khơi của những thi nhân xưa và nay. Vậy mà những h́nh
ảnh ấy lại được tác giả gọi là lẩn thẩn, dường như chúng chỉ
biểu hiện ư nghĩa nhỏ bé, đơn sơ. Gợi cho người đọc cảm thụ
rằng: tuy đẹp đẽ và vô vàn thơ mộng thế nhưng chưa phải là cái
cốt tuỷ!
Vậy điều cốt tuỷ ấy là ǵ?... Tác
giả không nói ra, hay không thể nói được, có phải chăng khi gọi
danh th́ không c̣n là cái đang là…? Cái mà chỉ có thể thấy được
của người trong cuộc. Tuy nhiên, tác giả cũng nói được ra những
điều mà khi nh́n vào bên trong chính người thơ đă thấy, ấy là
những miền không thực, những “đốm lửa chài nhấp nhô miền hư
ảo”; những khổ đau, những nỗi niềm thân phận… V́ bên trong
người thơ ấy vốn tiềm ẩn một trái tim nhấp nháy rất người.
Với cái thấy được như thế, th́
lúc ấy không c̣n mang nặng những điều ám ảnh không thực đó nữa.
Bằng cái nh́n mới mẻ, giờ đây: mọi vật vẫn vậy nhưng không phải
vậy! Mọi cái đều trở nên mới mẻ, v́ mọi cái đều mới, “nên nỗi
buồn (ngày xưa) cũng chàm rêu thành quách” và tư tưởng và
ḍng sông cũ đều không thực, đều hư ảo: “Ḍng sông đêm con
nước chảy mơ hồ”.
Đến đây người thơ đă an nhiên đón
nhận sự cô đơn. Chính cô đơn là nguồn sáng tạo, là đỉnh tỉnh
lắng mà lúc này ta đă đặt chân lên, phải bỏ lại tất cả: “Dăm
tri kỷ tơ đàn xưa buốt lạnh”. Lúc này, không ai có thể hiểu
tác giả nữa, mà cần ǵ ai hiểu. Có một nơi không bao giờ hiểu
nỗi, không bao giờ diễn đạt được bằng ngôn ngữ. Đó là vùng vô
ngôn của thế giới tâm linh, của sự tiềm ẩn sâu thẳm của thực tại
đang là…
Kết thúc bài thơ bằng một tia
nh́n thẩm thấu, xuyên suốt, lịch trải – nhưng rất thơ:
“Thoảng dặm trường dăm bảy hạt sương khô”. Phải chăng tác
giả rất an nhiên để thấy ḿnh lẩn thẩn với núi, với đá tri âm…
Lần đầu tiên một bài thơ “thi
dĩ tải đạo” làm cho tôi rung cảm ngây ngất, với những ngôn
từ và những h́nh tượng nghệ thuật đẹp, tác giả đă đưa tôi bồng
bềnh phiêu hốt trong cơi thi ca. Thật là diễm tuyệt. Ôi! Ngôn
ngữ thi ca…! |